Ung thư vòm họng là bệnh ung thư phổ biến thứ 6 ở Việt Nam, khiến hơn 4000 người chết mỗi năm, hơn 70% người bệnh được chẩn đoán ở giai đoạn muộn, cơ hội chữa bệnh giảm từ 80% xuống còn 15%, kiểm tra sức khỏe và làm xét nghiệm định kỳ sẽ giúp tầm soát sớm bệnh, tăng cơ hội chữa trị cho người bệnh

Vòm họng là một cấu trúc hình ống nhỏ phía trên vòm miệng mềm nối mũi với vòm họng. Ung thư vòm họng (UTVH) là một trong những ung thư ác tính cao với xâm lấn tại chỗ, di căn sớm và có tính chất địa lý. UTVH có tỷ lệ mắc đặc biệt cao ở một số vùng địa lý nhất định như: Nam Trung Quốc, Đông Nam Á và rất hiếm gặp ở các khu vực khác trên thế giới. Theo thống kê ung thư toàn cầu (Global cancer statistics) năm 2012, Châu Á chiếm 81% và các nước Đông Nam Á chiếm đến 67% ca mắc. Năm quốc gia có số ca mắc ung thư vòm họng cao nhất lần lượt là Trung Quốc, Indonesia, Việt Nam, Ấn Độ, Malaysia.

Trong vòng 5 năm (từ năm 2013-2018), số ca mắc UTVH tại Việt Nam là 16.290. Năm 2018, UTVH trở thành một trong sáu bệnh ung thư phổ biến nhất tại Việt Nam, số ca mắc mới được ghi nhận đã là 6. 212, tỷ lệ mắc 5.7/100.000 dân cao hơn rất nhiều so với tỷ lệ mắc chung của thế giới 1,5/100 000 dân. Bên cạnh mức độ phổ biến, UTVH tại Việt Nam là căn bệnh có tỷ lệ tử vong cao, năm 2012, cùng với Indonesia, Việt Nam là các quốc gia có tỷ lệ tử vong chuẩn hóa cao nhất thế giới. Năm 2018, UTVH đứng thứ 7 trong các bệnh ung thư gây tỷ lệ tử vong cao tại Việt Nam: có 4.232 ca tử vong (trung bình 2 giờ có 1 ngừơi chết vì căn bệnh này), tỷ lệ tử vong chuẩn hóa là 3,9/100.000, cao gấp 4,6 lần tỷ lệ tử vong chuẩn hóa trên thế giới 0,84/100. 000.

Việt Nam là quốc gia có tỷ lệ mắc và tử vong do ung thư vòm họng cao

(Nguồn: Global cancer statistics)

Các nguyên nhân dẫn đến UTVH thường không rõ ràng tuy nhiên các yếu tố nguy cơ được xác định có liên quan bao gồm:

  • Người nhiễm virus EBV
  • Có tiền sử người thân trong gia đình (cha/mẹ/anh chị em) bị UTVH
  • Ăn nhiều cá muối, thức ăn lên men như đồ muối chua, thịt hun khói
  • Người thường xuyên tiếp xúc với khói bụi, hóa chất, tia phóng xạ, cao su, nhựa tổng hợp,…
  • Đối tượng từ 30 – 84 tuổi. Nam giới gặp nhiều hơn nữ với tỷ suất là 3/1.
  • Hút thuốc lá, uống nhiều bia rượu, sử dụng chất kích thích.

Do có các triệu chứng không đặc hiệu và rõ ràng, dễ nhầm lẫn với các bệnh thông thường khác nên 70% bệnh nhân UTVH tại Việt Nam được chẩn đoán ở giai đoạn muộn, tiên lượng xấu, tỷ lệ tử vong cao. Tiên lượng bệnh phụ thuộc rất lớn vào giai đoạn bệnh khi được phát hiện: Ở giai đoạn đầu, tỷ lệ sống trên 5 năm sau điều trị có thể lên tới 80 – 90%, nhiều trường hợp có thể khỏi hẳn tuy nhiên với UTVH ở giai đoạn muộn thì tỷ lệ này chỉ còn 15% Vì vậy, bên cạnh việc phòng bệnh bằng lối sống lành mạnh, hạn chế các yếu tố nguy cơ thì việc tầm soát bệnh định kỳ sẽ giúp phát sớm  các dấu hiệu tiềm ẩn có thể dẫn đến UTVH để có thể can thiệp kịp thời từ giai đoạn sớm nhất nhằm tăng khả năng điều trị bệnh thành công. Gói tầm soát UTVH thường bao gồm 1 số hạng mục từ đơn giản đến phức tạp như: Nội soi tai mũi họng, xét nghiệm máu tìm virus EBV, xét nghiệm marker ung thư SCC, hoặc chuyên sâu hơn là xét nghiệm xác định các gen đột biến nhạy cảm với UTVH, chụp cộng hưởng từ, chụp PET/CT….. Tuy nhiên, để khẳng định chắc chắn UTVH thì kỹ thuật xét nghiệm giải phẫu mô bệnh học là kỹ thuật bắt buộc không thể thay thế, bệnh nhân sẽ được thực hiện sinh thiết trực tiếp u vòm/ hạch cổ, sau đó các nhân viên xét nghiệm sẽ tiến hành xét nghiệm chẩn đoán, quan sát tìm tế bào bất thường qua kính hiển vi.