Kết quả nghiên cứu cho thấy điểm trung bình 14 nhóm năng lực lãnh đạo và quản lý cần thiết của 1012 giám đốc/phó giám đốc và trưởng/phó khoa phòng tại các bệnh viện trên khắp cả nước chỉ dao động từ 2,5 – 3,1 điểm, nghĩa là phần lớn chưa đạt mức “tạm đủ”.

Từ năm 2006, Nghị định 43 của Chính phủ được ban hành đã định hướng mục tiêu là trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho đơn vị sự nghiệp trong việc tổ chức công việc, sắp xếp lại bộ máy sử dụng lao động và nguồn lực tài chính để hoàn thành nhiệm vụ được giao, phát huy mọi khả năng của đơn vị để cung cấp dịch vụ với chất lượng cao cho xã hội và khuyến khích các đơn vị sự nghiệp công lập chuyển đổi sang hoạt động theo loại hình doanh nghiệp, loại hình ngoài công lập nhằm phát huy mọi khả năng của đơn vị trong việc thực hiện các hoạt động theo quy định của pháp luật.

Theo thống kê từ Vụ kế hoạch tài chính – Bộ Y tế, đến nay cả nước mới có 143 (16,9%) bệnh viện tự chủ được toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên còn lại phần lớn vẫn đang loay hoay ở mức tự chủ được một phần hoặc Nhà nước bao cấp toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên.

Hoạt động theo mô hình doanh nghiệp, tự chủ tài chính, cân bằng thu chi, định vị thương hiệu, quản lý chiến lược đều là những bài toán khó với những cán bộ lãnh đạo quản lý bệnh viện vốn chỉ được đào tạo chuyên ngành về y dược.

Năm 2016, một nghiên cứu đánh giá nhu cầu đào tạo quản lý y tế dựa trên năng lực đã được trường Đại học Y tế công cộng phối hợp với Vụ Tổ chức cán bộ triển khai trên phạm vi 7 tỉnh đại diện cho các vùng kinh tế xã hội của Việt Nam. Kết quả cho thấy điểm trung bình tự đánh giá của 14 nhóm năng lực lãnh đạo và quản lý cần thiết của 1012 giám đốc/phó giám đốc và trưởng/phó khoa phòng tại bệnh viện chỉ dao động từ 2,5 – 3,1 điểm trên thang điểm 5, nghĩa là phần lớn chưa đạt mức “tạm đủ”.

Biểu đồ điểm trung bình năng lực quản lý của cán bộ lãnh đạo và quản lý bệnh viện (Vụ TCCB, BYT và Trường Đại học Y tế công cộng, 2016)

Để chuyển đổi mô hình quản lý, hướng tới tự chủ, tự chịu trách nhiệm, việc nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý điều hành các hoạt động bệnh viện cho cán bộ là vô cùng cần thiết. Không chỉ những cán bộ lãnh đạo quản lý đang đương chức hoặc quy hoạch, mà cả những cán bộ làm việc tại các khoa, phòng, làm công tác liên quan đến quản lý vận hành hoạt động của bệnh viện cũng cần được đào tạo chuyên sâu về quản lý bệnh viện.

 “Trước đây, ngành y tế chỉ tập trung đào tạo về chuyên môn, chưa chú trọng đào tạo quản lý bệnh viện và thường bổ nhiệm những người có tay nghề giỏi làm quản lý, dẫn đến những yếu kém trong quản trị bệnh viện công. Ngày nay, bệnh viện công lập phải tự chủ tài chính, những người đứng đầu bệnh viện cần được đào tạo cả về quản lý chất lượng khám chữa bệnh, lẫn nhân lực, tài chính bệnh viện và trang thiết bị y tế (Trưởng ban Bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ Trung ương, nguyên Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến).

 

Ngày nay, ngoài các khóa học ngắn hạn thì chương trình đào tạo chính quy Thạc sĩ (2 năm) và Tiến sĩ (3 năm) chuyên ngành Quản lý bệnh viện, với những can thiệp chuyên sâu về quản lý là một lựa chọn không thể bỏ qua. Chương trình học sẽ cung cấp những kiến thức và kỹ năng tổng thể để hoàn thiện toàn diện các năng lực lãnh đạo quản lý cần thiết cho cán bộ lãnh đạo quản lý các cấp của bệnh viện.

Chương trình Các môn học chuyên ngành
Thạc sĩ Quản lý bệnh viện Nguyên lý quản lý và quản lý bệnh viện Quản lý nguồn nhân lực
Quản lý Kinh tế và Tài chính bệnh viện Quản lý Trang thiết bị và cơ sở hạ tầng bệnh viện
Quản lý dược bệnh viện Đánh giá kinh tế y tế
Pháp luật Y tế và y đức Quản lý chất lượng bệnh viện
Giáo dục nâng cao sức khỏe tại BV Tiếp thị xã hội trong bệnh viện
Hệ thống thông tin QLSK Truyền thông chính sách y tế
Quản lý dự án An toàn vệ sinh lao động trong các cơ sở y tế
Phòng chống chấn thương Bệnh viện ứng phó với tình huống khấn cấp
Tiến sĩ Quản lý bệnh viện (ngoài các môn học của chương trình ThSQLBV) Hành vi văn hóa tổ chức Lãnh đạo và quản lý
Kinh tế và tài chính y tế

 

“Quản lý bệnh viện – con đường của tương lai”